Bài học từ chiến lược marketing của Google Glass: Tạo nhu cầu trước khi cung cấp

Like Pandora.vn để được cập nhật tin công nghệ chuyên sâu và nóng hổi!

 

Đa số các thương hiệu đều gặp rắc rối với việc thu hút khách hàng chú ý đến các ý tưởng mới.

Thông thường, các sản phẩm mới sẽ được áp dụng các chiến dịch PR đặc biệt, thu hút sự quan tâm sâu sắc từ những người có ảnh hưởng và giới truyền thông, và thu hút đám đông quần chúng bằng sự xuất hiện của các nhóm nhạc như The Black Eyed Peas hay Pearl Jam trình diễn tại sự kiện. Đối với Google Glass - chiếc kính hoạt động như một chiếc smartphone nhưng được đeo trên mặt, Google đã áp dụng phương thức PR của Apple, tạo ra “nhu cầu trước khi cung cấp” bằng cách sử dụng các chiến dịch hoàn hảo, tập trung vào tính độc quyền và cộng đồng.

Kế hoạch: Tính độc quyền và cộng đồng

Thay vì dựa vào báo chí, các nhà phân tích và những người có sức ảnh hưởng để quảng bá cho sản phẩm; Google dựa hoàn toàn vào giọng nói và tầm nhìn thị trường. “Chưa đầy 1% lượng truy cập là từ 6 tờ báo lớn (Mashable, Laptopmag,... ), trong khi gần 92% lượng truy cập được chuyển về từ Twitter,” theo lời Nicky Budd-Thanos đến từ NetBase, 1 công ty tập trung vào mảng phân tích truyền thông xã hội và thông tin.

Cách tiếp cận của Google khá đơn giản: Nếu anh muốn trở thành 1 phần của cộng đồng độc quyền người dùng Glass, anh phải (1) trở thành 1 phần của cộng đồng (theo dõi trên TwitterGoogle+), (2) đầu tư công sức (tuyên bố với cộng đồng Twitter rằng Glass có ý nghĩa như thế nào với họ, và (3) đầu tư tài chính 1.500 USD để có vinh dự trở thành một người dùng thử (hay còn gọi là “Nhà thám hiểm với Glass”).

Bằng cách tạo ra nhu cầu cho Glass và sự độc quyền, Google đã chạm tới “nhận thức và cảm xúc” của đám đông. Hãy nghĩ theo hướng này: Anh đã bao giờ theo đuổi một công việc mà anh thực sự đam mê chưa? Khi anh trải qua quá trình này, anh sẽ bị ép đến cùng và tất nhiên, không được chọn lựa. Một phần lý do là anh bắt đầu tưởng tượng và thấy vai trò của bản thân trong tương lai. Google đã tạo ra trải nghiệm như vậy – khiến cho mọi người đều nghĩ tới việc sử dụng Glass trong tương lai và tạo ra trạng thái “Tôi phải có nó” cho người dùng.

Không vướng vào bẫy TiVo

Điểm mà Google đang gặp khó khăn đó là định nghĩa chính xác Glass và chức năng của nó – tại sao nó lại cần thiết. Trong khi Sergey Brin nói chuyện về việc “nhân tính hoá” trải nghiệm xã hội, đó là 1 động lực tốt. Tuy nhiên việc đeo 1 chiếc kính có phần thiếu thẩm mỹ thay vì sử dụng điện thoại để chụp ảnh sẽ không thể làm tăng lượng người dùng trong quy mô lớn. Hãy nghĩ lại khi TiVo ra mắt cuối những năm 1990s. TiVo vẫn có giữ thế mạnh về mặt công nghệ và trải nghiệm người dùng so với các đối thủ khác trên thị trường, nhưng TiVo đã thất bại trong việc thống trị thị trường DVR. Họ ở các thị trường tương đối ít cạnh tranh, với người dùng có thu nhập đáng kể, những lại chỉ có thể làm “tốt” thay vì biến nó thành một “trào lưu”. TiVo có 18 tháng để chiếm thị trường và cuối cùng, hãng đã thất bại do thiếu tính năng và thông điệp hấp dẫn. Đơn giản và thuận tiện!

Kết quả

Chiến dịch Google Glass đã có những bước đầu tiên ngoạn mục. Họ đã tạo ra một cộng đồng lớn và tạo tiếng vang cho chiến dịch. “Ví dụ, Glass đã đạt được gần 13 tỷ lượt xem và hơn 1,3 triệu lượt đề cập tới trên Twitter trong năm qua, hơn 50% trong số đó được thực hiện cuối tháng trước. Thêm vào đó, ý kiến này tương đối khả quan (với tỷ lệ 5:1). Và trong khi Google vẫn chưa công bố số lượng Nhà khám phá, đã có tới hơn 145.000 lượt nhắc tới với dòng chữ #ifIhadGlass (là cách mà Google theo dõi các nhà khám phá tiềm năng)”, Budd-Thanos nói.

Và thành công đó là nhờ hai điểm chính trong chiến lược của Google: Marketing và không để xảy ra lỗi lớn, thay vì dựa hoàn toàn vào sự độc đáo của sản phẩm.

TK

Forbes/vcamp